Mr.Tường Nguyễn

Ảnh N-T
Cùng Ban giám đốc Học viện QLGD
Chụp với bà Nguyễn Thị Nhất
Ảnh đẹp
ảnh
Anh Cuoi   Anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Tâm lý học đại cương

Tâm lý học đại cương - Các thuộc tính tâm lý của nhân cách

6/4/2013 6:08:08 AM
Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Với tư cách là một thực thể xã hội, con người luôn có mối quan hệ tích cực, qua lại với môi trường xung quanh, nơi mà con người sống và hoạt động. Trong môi trường xã hội phong phú và đa dạng đó, con người bao giờ cũng hướng tới một mục tiêu nào đó có ý nghĩa đối với bản thân mình. Sự hướng tới mục tiêu đó diễn ra trong một thời gian tương đối lâu dàu và khá ổn định, do đó có thể trở thành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm chiếm lĩnh mục tiêu đó, quy định phương hướng cơ bản trong hành vi, quy định bộ mặt đạo đức của cá nhân, quy định mục đích của cả cuộc đời.

 

 

 

 

CHƯƠNG 7

CÁC THUỘC TÍNH TÂM LÝ CỦA NHÂN CÁCH

 

1. Mặt tình cảm của nhân cách

Trong sự tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan, con người không chỉ nhận thức được thế giới mà còn tỏ thái độ của mình với thế giới. Những hiện tượng tâm lý biểu thị thái độ của con người với những cái mà họ nhận thức được hoặc làm ra được như thế gọi là cảm xúc, tình cảm. Đời sống tình cảm của con người rất phong phú, ở nhiều mức độ khác nhau, có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý con người. Đó là nét đặc trưng của tâm lý người.

1.1. Xúc cảm và tình cảm là gì ?

Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu và động cơ của con người.

Đây là một hình thức phản ánh tâm lý mới, phản ánh cảm xúc (rung cảm). Do vậy, ngoài những điểm giống với sự phản ánh của nhận thức mang tính chủ thể, có bản chất xã hội lịch sử, phản ánh cảm xúc còn có những đặc điểm riêng như sau :

- Về nội dung phản ánh : Trong khi nhận thức chủ yếu phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân thế giới thì tình cảm phản ánh mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người.

- Về phạm vi phản ánh : Mọi sự vật, hiện tượng tác động vào giác quan của chúng ta ít nhiều được ta nhận thức (ở mức độ đầy đủ, sáng tỏ khác nhau), song không phải mọi tác động vào giác quan đều được ta tỏ thái độ, mà chỉ có những sự vật, hiện tượng nào liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu hoặc động cơ của con người mới gây nên cảm xúc. Nghĩa là phạm vi phản ánh của tình cảm có tính lựa chọn.

- Về phương thức phản ánh : Nhận thức phản ánh thế giới bằng hình ảnh, biểu tưởng, khái niệm, còn tình cảm phản ánh thế giới dưới hình thức rung cảm.

- Ngoài ra, với tư cách là một thuộc tính tâm lý ổn định, tiềm tàng của nhân cách, tình cảm mang đậm màu sắc chủ thể hơn so với nhận thức. Mặt khác, quá trình hình thành tình cảm lâu dài, phức tạp hơn nhiều và được diễn ra theo quy luật khác với quá trình nhận thức.

- Tình cảm được hình thành và biểu hiện qua xúc cảm. Xúc cảm và tình cảm đều biểu thị thái độ của con người đối với thế giới, nhưng xúc cảm và tình cảm cũng có những điểm khác nhau.

 

Xúc cảm

Tình cảm

- Có cả ở người và động vật

- Là một quá trình tâm lý

- Xuất hiện trước

- Có tính nhất thời, đa dạng, phụ thuộc vào tình huống,…

- Thực hiện chức năng sinh học (giúp cơ thể định hướng và thích nghi với môi trường bên ngoài với tư cách là một cá thể)

- Gắn liền với phản xạ không điều kiện và bản năng.

- Chỉ có ở con người

- Là một thuộc tính tâm lý

- Xuất hiện sau

- Có tính xác định và ổn định

 

- Thực hiện chức năng xã hội (giúp con người định hướng và thích nghi với xã hội với tư cách là một nhân cách)

- Gắn liền với phản xạ có điều kiện, với định hình động lực thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai.

 

1.2. Những đặc điểm cơ bản của tình cảm

- Tính nhận thức : Tình cảm được nảy sinh trên cơ sở những xúc cảm của con người trong quá trình nhận thức đối tượng. Hay nói cách khác, yếu tố nhận thức, rung động và phản ứng cảm xúc là ba yếu tố làm nảy sinh tình cảm. Trong đó, nhận thức được xem là “cái lý” của tình cảm, nó làm cho tình cảm có tính đối tượng xác định.

- Tính xã hội : Tình cảm chỉ có ở con người, nó mang tính xã hội, thực hiện chức năng xã hội và được hình thành trong môi trường xã hội chứ không phải là những phản ứng sinh lý đơn thuần.

- Tính ổn định : Nếu xúc cảm là thái độ nhất thời, có tính tình huống, thì tình cảm là những thái độ ổn định của con người đối với hiện thực xung quanh và đối với bản thân. Chính vì vậy mà tình cảm là một thuộc tính tâm lý, một đặc trưng quan trọng của nhân cách con người.

- Tính chân thực : Tính chân thực của tình cảm được thể hiện ở chỗ, tình cảm phản ánh chính xác nội tâm thực của con người, ngay cả khi con người cố che dấu, ngụy trang bằng những động tác giả như giả vờ không buồn, nhưng thực ra lại rất buồn.

- Tính đối cực : Hay còn gọi là tính hai mặt, tính đối cực của tình cảm gắn liền với sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Trong một hoàn cảnh nhất định, một số nhu cầu được thỏa mãn, còn một số nhu cầu lại bị kìm hãm hoặc không được thỏa mãn, tương ứng với điều này, tình cảm của con người được phát triển và mang tính đối cực : Yêu – ghét; Buồn – vui; Tích cực – tiêu cực;…

- Tính khái quát : Tình cảm có được là do tổng hợp hóa, động hình hóa, khái quát hóa những xúc cảm đồng loạt. Tính khái quát của tình cảm biểu hiện ở chỗ, tình cảm là thái độ của con người đối với cả một loại hay một phạm trù các sự vật, hiện tượng chứ không chỉ với từng sự vật, hiện tượng như lòng yêu nước, tình cảm gia đình, tình bạn,…

1.3. Vai trò của tình cảm trong nhân cách con người

- Tình cảm đối với nhận thức

Đối với nhận thức, tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi đối với kết quả của nhận thức. Ngược lại, nhận thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh tình cảm đi đúng hướng. Nhận thức và tình cảm là hai mặt của một vấn đề nhân sinh quan thống nhất của con người.

- Tình cảm đối với hoạt động

Tình cảm chiếm vị trí quan trọng trong số những động lực và nhân tố điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người. Tình cảm nảy sinh, biểu hiện, thúc đẩy con người hoạt động, giúp con người vượt qua những khó khăn, trở ngại để đạt được mục đích hoạt động.

- Tình cảm đối với các thuộc tính tâm lý khác

Tình cảm có mối quan hệ và chi phối toàn bộ các thuộc tính tâm lý của nhân cách. Tình cảm chi phối tất cả các biểu hiện của xu hướng nhân cách; nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin; tình cảm là mặt nhân lõi của tính cách; là điều kiện và là động lực để hình thành năng lưc; là yếu tố có quan hệ qua lại với khí chất con người.

- Tình cảm đối với nghề dạy học

Tình cảm giữ một vai trò vô cùng quan trọng, nó vừa là điều kiện, vừa là nội dung, vừa là phương tiện giáo dục. Tài năng của nhà giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào lòng yêu nghề, tình thương yêu tuổi trẻ, thiếu lòng yêu nghề, yêu trẻ sâu sắc thì thầy giáo khó có thể trở thành nhà giáo dục tốt.

1.4. Các mức độ của đời sống tình cảm

Tình cảm của con người đa dạng về cả nội dung lẫn hình thức biểu hiện. Xét từ thấp đến cao, đời sống tình cảm của con người có những mức độ sau :

- Màu sắc xúc cảm của cảm giác

+ Đây là mức độ thấp nhất của tình cảm. Nó là một sắc thái xúc cảm đi kèm theo quá trình cảm giác nào đó. Ví dụ, cảm giác về màu xanh da trời gây cho ta một cảm xúc khoan khoái, nhẹ nhõm, dễ chịu. Cảm giác về màu đỏ gây cho ta một cảm xúc rạo rực, nhức nhối,…

+ Màu sắc xúc cảm của cảm giác mang tính chất cụ thể, nhất thời, không mạnh mẽ, gắn liền với một cảm giác nhất định và không được chủ thể ý thức một cách rõ ràng và đầy đủ.

- Xúc cảm : Đây là những rung cảm xảy ra nhanh chóng, nhưng mạnh mẽ và rõ rệt hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác. Nó mang tính chất khái quát hơn và được chủ thể ý thức ít nhiều rõ rệt hơn với sắc màu xúc cảm của cảm giác.

Tuy nhiên, tùy theo cường độ, tính ổn định, thời gian tồn tại và tính ý thức cao hay thấp mà người ta lại chia xúc cảm thành hai mức độ :

+ Xúc động : Là một dạng của xúc cảm có cường độ rất mạnh, xảy ra trong một thời gian ngắn và khi xảy ra xúc động con người thường không làm chủ được bản thân mình, không ý thức được hậu quả hành động của mình.

+ Tâm trạng : Là một dạng khác của xúc cảm, nó có cường độ vừa phải hoặc tương đối yếu, tồn tại trong khoảng thời gian tương đối dài, có khi hàng tháng, hàng năm và con người không ý thức được nguyên nhân gây ra nó. Tâm trạng là một trạng thái xúc cảm chung bao trùm lên toàn bộ các rung động và làm nền cho hoạt động của con người, có ảnh hưởng rõ rệt đến toàn bộ hành vi của con người trong một khoảng thời gian khá dài, ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến đời sống tình cảm của con người. Nguồn gốc của tâm trạng rất khác nhau : có những nguồn gốc gần với những nguồn gốc xa. Ngồn gốc chủ yếu để gây ra tâm trạng là vị trí cá nhân trong xã hội.

- Tình cảm

Đó là thái độ ổn định của con người đối với hiện thực xung quanh và đối với bản thân mình, nó là một thuộc tính tâm lý của nhân cách. Tình cảm có một loại đặc biệt, có cường độ rất mạnh, thời gian tồn tại khá dài và được ý thức rất rõ ràng như sự say mê, có những say mê tích cực như say mê học tập, nghiên cứu và có những say mê tiêu cực, thường gọi là đam mê, như đam mê cờ bạc, rượu chè,…

Người ta còn phân chia tình cảm thành tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao, tình cảm cấp thấp là những tình cảm có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu sinh lý của con người. Tình cảm cấp cao gồm có tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm hành động,…

- Tình cảm đạo đức là những tình cảm có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu đạo đức của con người. Tình cảm đạo đức biểu hiện thái độ của con người đối với những người khác, đối với tập thể và đối với bản thân. Ví dụ, tình yêu tổ quốc, tinh thần quốc tế, tình cảm nghĩa vụ,…

- Tình cảm trí tuệ là những tình cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động trí óc, nó liên quan đến những quá trình nhận thức và sáng tạo, liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người.

- Tình cảm thẩm mỹ là những tình cảm có liên quan tới nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu về cái đẹp, thể hiện thái độ thẩm mỹ của con người đối với tự nhiên, xã hội, lao động,…Tình cảm thẩm mỹ cũng như tình cảm đạo đức được quy định bởi xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển của xã hội.

- Tình cảm hành động là sự thể hiện thái độ của con người đối với một hay một vài hoạt động nhất định, liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu hoạt động của con người.

- Tình cảm mang tính chất thế giới quan, nhân sinh quan là mức độ cao nhất của tình cảm con người. Ở mức độ này tình cảm có đặc điểm rất bền vững và ổn định, có tính khái quát cao, có tính tự giác và tính ý thức cao trở thành một quan điểm, một nguyên tắc trong thái độ và hành vi của cá nhân. Ví dụ, lòng yêu nước, tinh thần tương thân tương ái, tinh thần giai cấp,…

1.5. Các quy luật của đời sống tình cảm

Đời sống tình cảm của con người vô cùng phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp, điều đó được thể hiện qua các quy luật tình cảm.

a. Quy luật lây lan tình cảm

Con người luôn sống trong xã hội, trong các mối quan hệ người – người. Vì vậy, cảm xúc, tình cảm của người này có thể lây lan sang người khác. Trong đời sống hàng ngày ta thường thấy hiện tượng “vui lây”, “buồn lây”, “cảm thông”, “đồng cảm”,…đó chính là biểu hiện của quy luật lây lan tình cảm. Nền tảng của quy luật này là tính xã hội trong tình cảm của con người. Tuy nhiên, việc lây lan tình cảm từ chủ thể này sang chỉ thể khác không là con đường chủ yếu để hình thành tình cảm.

b. Quy luật thích ứng của tình cảm

Tương tự như trong quá trình cảm giác, trong xúc cảm, tình cảm cũng có hiện tượng thích ứng. Nghĩa là một xúc cảm, tình cảm nào đó được lặp đi lặp lại nhiều lần với một cường độ không thay đổi vì cuối cùng cũng sẽ yếu đi và bị lắng xuống. Đó là hiện tượng thường được gọi là sự chai sạn của tình cảm.

c. Quy luật tương phản hay cảm ứng của tình cảm

Giống như cảm giác, tình cảm cũng có sự tương phản. Trong quá trình hình thành hoặc biểu hiện của tình cảm, sự xuất hiện hoặc suy yếu đi của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm một tình cảm khác xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp nó. Đó là hiện tượng cảm ứng hay tương phản trong tình cảm. Người ta vận dụng quy luật này trong văn học, nghệ thuật, càng yêu nhân vật chính diện bao nhiêu thì càng ghét nhân vật phản diện bấy nhiêu.

d. Quy luật di chuyển của tình cảm

Tình cảm con người có thể di chuyển từ một đối tượng này sang một đối tượng khác có liên quan đến đối tượng gây nên tình cảm trước đó, chẳng hạn hiện tượng “giận cá chém thớt”, “ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”, “vì cây mà dây quấn”,…

e. Quy luật pha trộn của tình cảm

Trong đời sống tình cảm của một con người cụ thể, nhiều khi hai tình cảm đối cực nhau có thể cùng xảy ra một lúc nhưng không loại trừ nhau mà chúng pha trộn vào nhau. Ví dụ. “giận mà thương”, “bởi trưng hay ghét cũng vì hay yêu”,…

g. Quy luật về sự hình thành tình cảm

- Xúc cảm là cơ sở của tình cảm, tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp quá, động hình hóa và khái quát hóa những xúc cảm đồng loại, chẳng hạn tình cảm mẹ con, lòng yêu tổ quốc, tình yêu quê hương,…

- Tình cảm được xây dựng từ những xúc cảm, nhưng khi đã được hình thành thì tình cảm lại chi phối và thể hiện qua các xúc cảm đa dạng.

2. Mặt ý chí của nhân cách

2.1. Ý chí là mặt năng động của ý thức

Ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn bên ngoài và bên trong.

- Năng lực này không phải tự nhiên ai cũng có như nhau, nói cách khác, ý chí là một phẩm chất tâm lý của cá nhân, một thuộc tính tâm lý của nhân cách. Người ta thường nói, anh này không có ý chí, chị này có ý chí cao, chị kia ý chí kém,…

- Là một hiện tượng tâm lý, ý chí cũng là một sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua mục đích của hành động, nhưng mục đích đó không có sẵn mà được con người nhận thức một cách tự giác, mục đích ấy do các điều kiện của hiện thực khách quan quy định.

- Ý chí là mặt năng động của ý thức, ý chí là hình thức tâm lý điều chỉnh hành vi tích cực nhất của con người, là năng lực tâm lý cho phép con người vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để thực hiện đến cùng mục đích đã xác định. Sở dĩ như vậy là vì ý chí kết hợp được trong mình cả mặt năng động của trí tuệ lẫn mặt năng động của tình cảm đạo đức. Ý chí là mặt hoạt động của trí tuệ và của tình cảm đạo đức.

- Động vật không có ý chí, ý chí là mặt đặc trưng của tâm lý con người, bởi vì con vật chỉ thích ứng một cách thụ động với thiên nhiên, còn con người bằng lao động, một loại hoạt động có ý thức, đã chinh phục và cải biến thiên nhiên. Ý chí con người được hình thành trong quá trình lao động. Ngay cả hoạt động lao động đơn giản nhất, ví dụ như săn bắn thời nguyên thủy, cũng đòi hỏi con người phải có phẩm chất ý chí nhất định. Ph.Ăngnghen đã nói, loài người càng cách loài vật thì tác động của con người vào giới tự nhiên càng mang tính chất của một hoạt động có tính toán trước, tiến hành một cách có phương hướng vào những mục đích nhất định, đã đề ra từ trước.

- Ý chí của con người được hình thành và biến đổi tùy theo những điều kiện xã hội lịch sử, tùy theo những điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Tính chất của những mục đích và những thúc đẩy đối với hành động của con người được quyết định bởi việc họ đại diện cho quyền lợi của giai cấp nào. Vì thế mà, xu hướng của ý chí khác nhau trong những thời đại khác nhau và ở những đại diện của các giai cấp khác nhau.

- Giá trị chân chính của ý chí không phải chỉ ở chỗ ý chí đó như thế nào, cao hay thấp, mạnh hay yếu, mà thể hiện ở chỗ nó hướng vào cái gì. Cho nên cần phải phân biệt mức độ ý chí, cường độ ý chí với nội dung đạo đức của ý chí.

- Chỉ có những ý chí được giáo dục về đạo đức mới có thể giúp con người thực hiện được những chuyển biến lớn lao trong sự nghiệp của mình.

2.2. Ý chí và các đặc điểm tâm lý khác của nhân cách

Ý chí không phải thuộc tính tách rời của con người, nó liên hệ chặt chẽ với các mặt, các chức năng khác của tâm lý con người.

a. Ý chí và nhận thức

- Nhận thức của con người hướng vào lĩnh hội, phân tích, trừu tượng hóa và khái quát hóa các tri thức tiếp thu từ môi trường xung quanh, những kiến thức này được củng cố trong trí nhớ và chế biến trong tư duy. Nghĩa là nội dung của ý chí nằm trong các khái niệm, các biểu tượng do tư duy và tưởng tượng mang lại. Những tri thức này thông báo những cái có trong thế giới xung quanh chúng ta. Như vậy, nhận thức làm cho ý chí có nội dung. Đồng thời, ý chí là cơ chế khởi động và ức chế, ý chí còn điều chỉnh hành vi, nghĩa là hướng một cách có ý thức vào các nỗ lực của bản thân nhằm đạt mục đích cần thiết. Đó là sự điều chỉnh của ý chí và hành vi, hướng một cách có ý thức sự nỗ lực trí tuệ và thể chất vào việc đạt tới mục đích hoặc kiềm chế hoạt động khi cần thiết.

- Khi chúng ta nói giữa ý chí và nhận thức có mối quan hệ thì không có nghĩa là con người ta nhận thứ cái gì thì hành động như thế. Nhưng con người ta một khi đã có những suy nghĩ chín chắn về mục đích sống thì họ phải bằng mọi cách để đạt được mục đích đã đề ra, có nghĩa là con người sẽ phải có sự nỗ lực ý chí.

- Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có thể gặp những người mà ở họ có sự hoạt động rất mạnh mẽ, thể hiện sự kiên trì để vươn tới mục đích, nhưng bản thân mục đích đó không quan trọng, không có ý nghĩa xã hội. Sự nỗ lực lớn của họ sẽ trở nên vô ích, nếu họ không nhận thức được ý nghĩa của ý chí.

b. Ý chí và tình cảm

- Tình cảm và ý chí có quan hệ mật thiết với nhau, ý chí là mặt hoạt động của tình cảm.

- Trong đời sống hàng ngày, hoạt động của con người, tình cảm thực hiện vai trò kích thích hành động. Đồng thời những rung động có thể là phương tiện kìm hãm hành động. Nhưng bản thân tình cảm cũng chịu sự kiểm soát của ý chí, vì thực tế có khi con người ta hành động trái ngược với tình cảm. Chẳng hạn con người ta đấu tranh với những mất mát, với sự tức giận, với niềm vui, nỗi khổ,…làm được điều đó là nhờ có ý chí.

2.3. Các phẩm chất ý chí của nhân cách

a. Tính mục đích

- Tính mục đích là phẩm chất quan trọng của ý chí, đó là kỹ năng của con người biết đề ra cho hoạt động và cuộc sống của mình mục đích. Biết điều khiển hành vi của mình phục tùng các mục đích. Nhưng tính mục đích của một người trưởng thành phụ thuộc vào thế giới quan và những nguyên tắc đạo đức của người đó, tính mục đích còn mang tính giai cấp. Vì vậy, khi xem xét tính mục đích không phải xem xét ở góc độ hình thức mà phải xem xét ở mặt nội dng.

Ví dụ, ý chí của bọn cướp của giết người khác với ý chí của những người chiến sĩ cách mạng. Khác ở chỗ, người chiến sĩ cách mạng đã biết đặt mục đích là vì nhân dân, vì Tổ quốc, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mà hành động. Con bọn cướp của giết người thì vì những lợi ích cá nhân thấp hèn, đê tiện.

b. Tính độc lập

- Đó là năng lực quyết định và thực hiện hành động đã dự định mà không chịu ảnh hưởng của người khác. Tính độc lập thể hiện ở chỗ con người có thể từ bỏ ý kiến của người khác để làm theo ý kiến của mình và ngược lại, nhưng phải là ý kiến đúng.

- Điều đáng chú ý là tính độc lập ở đây không giống với tính bướng bỉnh, tính bảo thủ, nghĩa là bất luận ý kiến của người khác đúng hay sai họ đều phủ định giữ nguyên ý kiến của mình.

- Tính độc lập không có nghĩa là không phục tùng ý kiến của người khác, của tập thể. Song cũng không có nghĩa là phải “a dua”, “gió chiều nào theo chiều đó” hay bắt chước một cách không có ý thức.

- Tính độc lập của ý chí giúp con người hình thành được niềm tin vào sức mạnh của mình.

c. Tính quyết đoán

- Là khả năng đưa ra những quyết định kịp thời, không dao động, không lệ thuộc vào người khác.

- Tính quyết đoán không phải thể hiện ở hành động thiếu suy nghĩ, mà là những hành động có cân nhắc, có căn cứ. Con người có tính quyết đoán là có niềm tin vào sự thành công, vào sự đúng đắn của những suy nghĩ của mình.

- Tiền đề của tính quyết đoán là tính dũng cảm, nghĩa là sự nhút nhát, mềm yếu thì không thể có được tính quyết đoán. Người có tính quyết đoán luôn luôn có hành động dứt khoát, nhanh, đúng lúc, không dao động. Ngược lại, người không có tính quyết đoán thường hay do dự, dao động và hành động không đúng lúc, không kịp thời và hay hoài nghi.

d. Tính bền bỉ, kiên trì

- Phẩm chất này được biểu hiện ở kỹ năng vượt khó khăn để đạt mục đích không tính thời gian ngắn hay dài, miễn là đạt được mục đích đặt ra. Không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, chán nản, những khó khăn không làm họ nhụt chí mà còn làm tăng nghị lực để vượt qua khó khăn. Phẩm chất bền bỉ rất cần đối với người làm công tác giáo dục. Song chúng ta cũng cần phân biệt người có tính bền bỉ, dẻo dai khác với người có tính lì lợm, bướng bỉnh, kém ý chí.

- Tính bướng bỉnh ở học sinh được thể hiện rõ nhất là thái độ phản ứng của các em đối với người lớn khi có thái độ thiếu tế nhị, hoặc ở tính đỏng đảnh của đứa trẻ khi được gia đình nuông chiều, từ đó các em quan niệm sai về phẩm chất này, các em đánh giá tính bướng bỉnh, nũng nịu, đỏng đảnh là thể hiện sự cứng rắn, tính độc lập và không bị dao động.

e. Tính tự chủ

- Là khả năng làm chủ bản thân, duy trì được sự kiểm soát các hành vi của bản thân, như chiến thắng với những thúc đẩy không mong muốn, không lành mạnh, tính tự chủ là khả năng kiểm soát, làm chủ được những xúc động, cảm xúc sợ hãi, giận dữ hay ủy mị,…xảy ra không đúng lúc, không cần thiết ở mỗi người.

- Tính tự chủ giúp con người khắc phục được tính cục cằn cũng như các trạng thái tâm lý khác như buồn chán, hoang mang, dao động, hoài nghi,…Những trạng thái tâm lý này thường nảy sinh trong công tác, trong quan hệ với đồng nghiệp, trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân.

- Tính tự chủ của con người được hiểu là sự kiềm chế những cảm xúc, xúc động trong tình cảm. Khi kiềm chế cảm xúc, con người gắn nó với những phản ứng ngô ngữ và phi ngôn ngữ.

Các phẩm chất ý chí của nhân cách nói trên luôn luôn gắn bó hữu cơ với nhau, hỗ trợ cho nhau, tạo nên ý chí cao của con người. Các phẩm chất ý chí này được thể hiện trong các hành động ý chí.

2.4. Hành động ý chí và cấu trúc của nó

a. Khái niệm hành động ý chí

Hành động ý chí là hành động có ý thức, có chủ tâm, đòi hỏi nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra.

b. Các đặc điểm của hành động ý chí

- Nguồn kích thích hành động ý chí không trực tiếp quyết định hành động bằng cường độ vật lý mà thông qua cơ chế động cơ hóa hành động, trong đó chủ thể nhận thức ý nghĩa của kích thích để từ đó quyết định có hành động hay không.

- Tính mục đích của hành động ý chí :

Trước khi hành động con người tự hỏi “Hành động để đạt mục đích gì ?” nghĩa là con người phải ý thức được mục đích của hành động, ý chí sẽ giúp con người đạt được mục đích. Ý thức được mục đích của hành động là đặc điểm cơ bản, điển hình của hành động ý chí. Nếu mất đi đặc điểm này thì không thể gọi là hành động ý chí.

Ví dụ, người ta so sánh hành động của con ong và con người. Mác vạch ra cái khác cơ bản giữa con ong giỏi nhất và nhà kiến trúc sư tồi nhất là kiến trúc sư trước khi xây dựng từng tầng sáp thì đã xây dựng được tầng đó trong óc mình rồi.

- Trong hành động ý chí, con người biết lựa chọn phương tiện và biện pháp hành động sao cho thực hiện được mục đích và đạt hiệu quả cao. Khác với con vật, con người chủ động tác động vào tự nhiên và môi trường để tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình. Trong quá trình hành động con người biết dùng những công cụ sẵn có và sáng tạo ra công cụ để hành động và con người biết lựa chọn phương pháp hành động.

- Có sự theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh, điều khiển, có sự nỗ lực ý chí để khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện mục đích. Nỗ lực ý chí thể hiện trong hành động là kìm hãm, tăng giảm cường độ của hành động. Nỗ lực ý chí còn thể hiện ở chỗ có thể chuyển từ trạng thái không hành động sang trạng thái hành động và ngược lại.

- Khi xem xét, đánh giá sự nỗ lực ý chí của một người nào đó, thì bao giờ người ta cũng xét đến yếu tố nội dung đạo đức của hành động ý chí. Điều đó nói lên rằng, hành động ý chí nào phù hợp với sự phát triển xã hội thì hành động ý chí đó chân chính và ngược lại.

c. Các loại hành động ý chí

- Hành động ý chí đơn giản : Đó là những hành động có mục đích rõ ràng. Loại hành động này còn được gọi là hành động có chủ định, hay hành động tự ý.

- Hành động ý chí cấp bách : Là hành động xảy ra trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có sự nỗ lực, sự quyết định chớp nhoáng.

- Hành động ý chí phức tạp : Đây là loại hành động ý chí điển hình mà trong đó nó thể hiện tất cả các đặc điểm của hành động ý chí.

d. Cấu trúc của hành động ý chí

Cấu trúc của hành động ý chí bao gồm 3 giai đoạn : Giai đoạn chuẩn bị; Giai đoạn thực hiện; Giai đoạn đánh giá kết quả hành động.

- Giai đoạn chuẩn bị hành động

Đây là giai đoạn hành động trí tuệ, giai đoạn suy nghĩ. Gia đoạn này bao gồm :

+ Đặt ra và ý thức rõ ràng về mục đích hành động;

+ Lập kế hoạch và tìm ra phương pháp hành động;

+ Quyết định hành động.

- Giai đoạn thực hiện hành động

+ Đây là giai đoạn tiếp theo sau khi quyết định hành động. Giai đoạn này đỏi hỏi sự nỗ lực lớn, nhưng chỉ nỗ lực thôi thì chưa đủ mà cần phải có ý chí để thực hiện hành động.

+ Giai đoạn thực hiện hành động có hai hình thức là hành động bên ngoài và hành động bên trong, có thể gọi đó là hành động ý chí bên ngoài và hành động ý chí bên trong. Nếu con người đi lệch khỏi con đường đã định tức là lệch mục đích thì đó là hành động thiếu ý chí.

+ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong những điều kiện, hoàn cảnh thay đổi, việc thực hiện quyết định trước đây không còn hợp lý nữa, thì việc từ bỏ một cách có ý thức quyết định hành động cũ là điều cần thiết. Việc làm này phải có ý chí mới có thể thực hiện được. Khi mục đích đã đạt được, những khó khăn đã vượt qua, con người sẽ cảm thấy thỏa mãn về mặt đạo đức và tiến hành hành động mới.

- Giai đoạn đánh giá kết quả của hành động

+ Sau khi hành động ý chí đã được thực hiện, con người bao giờ cũng đánh giá các kết quả đã đạt được, đánh giá là để rút ra những bài học kinh nghiệm cho những lần hành động tiếp theo.

+ Đánh giá kết quả hành động là đối chiếu kết quả đạt được với mục đích đã đề ra. Sự đánh giá có thể xảy ra hai trạng thái : Đánh giá xấu thường kèm theo những rung cảm xấu hổ, hối hận, chưa thỏa mãn. Đánh giá tốt xảy ra với những rung cảm thỏa mãn, hài lòng, sung sướng.

+ Sự đánh giá kết quả hành động có ý nghĩa thực tiễn lớn trong hoạt động của con người. Nó có thể trở thành động cơ, kích thích đối với hoạt động tiếp theo. Đánh giá xấu dẫn đến việc đình chỉ hoặc sửa chữa hành động hiện tại; đánh giá tốt sẽ kích thích việc tiếp tục, tăng cường hành động đang thực hiện và những hành động tiếp theo.

Ba giai đoạn đoạn trên đây của hành động ý chí có liên quan mật thiết với nhau, tiếp nối nhau và bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế nhất định, có những hành động ý chí rút gọn, tức là không nhất thiết đầy đủ các giai đoạn trên.

3. Xu hướng nhân cách

3.1. Định nghĩa về xu hướng

Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Với tư cách là một thực thể xã hội, con người luôn có mối quan hệ tích cực, qua lại với môi trường xung quanh, nơi mà con người sống và hoạt động. Trong môi trường xã hội phong phú và đa dạng đó, con người bao giờ cũng hướng tới một mục tiêu nào đó có ý nghĩa đối với bản thân mình. Sự hướng tới mục tiêu đó diễn ra trong một thời gian tương đối lâu dàu và khá ổn định, do đó có thể trở thành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm chiếm lĩnh mục tiêu đó, quy định phương hướng cơ bản trong hành vi, quy định bộ mặt đạo đức của cá nhân, quy định mục đích của cả cuộc đời.

Trong cuộc sống và hoạt động, mỗi cá nhân đặt ra cho mình những mục tiêu và viễn cảnh khác nhau, có thái độ lựa chọn khác nhau với những giá trị xã hội xung quanh. Xu hướng của mỗi người khác nhau là khác nhau. Xu hướng là một thuộc tính của nhân cách.

Xu hướng của cá nhân là ý định hướng tới đối tượng trong một thời gian lâu dài nhằm thỏa mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc vươn tới mục tiêu cao đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống của mình. (A.G.Côvaliốp)

Xu hướng nhân cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống động cơ quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân và quy định sự lựa chọn thái độ của nó.

3.2. Vai trò của xu hướng

- Xu hướng quy định phương hướng cơ bản trong hành vi, quy định bộ mặt đạo đức cũng như mục đích cuộc đời của cá nhân, do đó nó chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc nhân cách.

- Xu hướng tạo động cơ cho hoạt động, định hướng, chi phối, điều khiển, điều chỉnh hoạt động.

- Xu hướng và tính cách : Xu hướng quy định tính cách của con người phát triển theo hướng nào. Tính cách của con người được ổn định và vững vàng khi xu hướng được ổn định. Thường thì cuối tuổi thanh niên tính cách tương đối ổn định.

- Xu hướng và năng lực : Đây là mối quan hệ hai chiều. Xu hướng xác định chiều hướng phát triển của năng lực, ngược lại, năng lực giúp cho những mục tiêu của xu hướng có khả năng biến thành hiện thực. Sau đó, những kết quả đạt được nhờ năng lực sẽ trở lại củng cố, kích thích xu hướng.

- Xu hướng và khí chất : Xu hướng có thể góp phần phát triển những mặt tốt, hạn chế, khắc hục những thiếu sót của từng kiểu khí chất.

3.3. Những mặt biểu hiện của xu hướng

3.3.1. Nhu cầu

a. Khái niệm nhu cầu

Để tồn tại và phát triển mỗi cơ thể sống đều cần có những điều kiện và phương tiện nhất định do môi trường đem lại. Giống như các cơ thể sống khác, để tồn tại và phát triển, con người cũng cần những điều kiện và phương tiện nhất định. Tất cả những đòi hỏi ấy gọi là nhu cầu của cá nhân. Nhu cầu biểu thị sự gắn bó của cá nhân với thế giới xung quanh. Ngược lại, tất cả mọi hoạt động của con người đều nhằm thỏa mãn hàng loạt nhu cầu ngày càng cao trong cuộc sống của con người.

Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.

b. Đặc điểm của nhu cầu

- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng. Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn nó thì lúc đó nhu cầu sẽ trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn đối tượng. Nhưng sự tồn tại của đối tượng trong tâm lý cá nhân có thể có nhiều mức độ khác nhau:

+ Ở mức độ thấp; đối tượng còn mơ hồ, chưa được xác định cụ thể

VD: Cảm thấy muốn ăn một cái gì đó; Cảm thấy muốn nghỉ ngơi

+ Mức độ 2 cao hơn; đối tượng của nhu cầu được phản ánh vào đầu óc của cá nhân một cách cụ thể hơn.

VD: Muốn ăn thịt gà; Muốn ngủ

+ Mức độ 3 cao nhất; ở mức độ này đặc trưng của đối tượng và ý nghĩa của nó đã được cá nhân nhận thức.

VD: Thèm ăn thịt gà quê; Phải đi du lịch ở Biển

Nhờ có sự tồn tại của đối tượng trong nhu cầu, mà cá nhân định hướng được hoạt động của mình trong môi trường, nhu cầu là biểu hiện đầu tiên của mọi hoạt động.

- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định.

VD: Trẻ em uống sữa

Chính điều kiện sống đã quy định nội dung, đối tượng của nhu cầu. Mọi nhu cầu đều là hình thức đặc biệt của sự phản ánh những điều kiện sống bên ngoài.

Nội dung và đối tượng của nhu cầu còn phụ thuộc vào phương thức thoả mãn nó. Mác cho rằng “Đói là đói, song cái đói được thoả mãn bằng thịt chín với dụng cụ là dao dĩa thì khác hẳn với cái đói bắt buộc phải nuốt bằng thịt sống”. (So sánh cái đói của người và của vật)

Con người có nhu cầu này hoặc nhu cầu khác chính là do điều kiện và phương thức sinh hoạt mà gia đình và xã hội đem lại. Có thể cùng trong một thời đại, cùng trong một nhu cầu nhưng mỗi người lại có những nhu cầu hoàn toàn khác nhau.

- Nhu cầu có tính chu kỳ

Nhu cầu có tính chất chu kỳ, nhu cầu có thể xuất hiện lại, có thể tái tạo lại như các nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, giao tiếp,…thường xuyên được tái diễn trong cuộc sống con người. (với điều kiện ta vẫn duy trì điều kiện và các phương thức sinh hoạt cũ).

Sự tái diễn của nhu cầu thường có tính chất chu kỳ, đó là do tính chất chu kỳ của sự biến đổi hoàn cảnh và trạng thái cơ thể gây nên, mỗi khi nhu cầu tái hiện là một lần nó được củng cố, phát triển và phong phú hơn.

VD: Sống mãi trong một điều kiện hoàn cảnh sẽ hình thành thói quen như ăn một mình, ngủ một mình, sống một mình,…

- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật, nhu cầu của con người mang bản chất xã hội.

Nhu cầu của con người rất đa dạng, như nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn tại của cơ thể như : nhu cầu ăn, ở, mặc,…; nhu cầu tinh thần bao gồm nhu cầu nhận thức, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu hoạt động xã hội.

Các nhu cầu được phát triển thông qua sự biến đổi phạm vi các đối tượng để thoả mãn nhu cầu ấy và thông qua sự biến đổi phương thức thoả mãn nhu cầu.

→ Kết luận sư phạm

+ Giáo dục phải giúp cá nhân nhận thức được đầy đủ đối tượng của nhu cầu, ý nghĩa của nó đối với bản thân.

+ Phải thường xuyên tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng, phù hợp với lứa tuổi.

+ Phải thay đổi những cơ sở xã hội đã làm nảy sinh ra nhu cầu mới có thể thay đổi nhu cầu của con người.

c. Vai trò của nhu cầu

- Nhu cầu được xem là nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực nhận thức của con người, là động cơ thực sự của cá nhân. Chính nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động, tạo nên những điều kiện, những phương tiện tương ứng để thoả mãn đòi hỏi của mình.

- Một nhu cầu khách quan nào đó, phải được phản ánh vào đầu óc cá nhân, tức là phải được cá nhân nhận thức, tự ý thức. Khi nhu cầu đã được con người phản ánh, nó sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, một thái độ của cá nhân, xác định hướng suy nghĩ, tình cảm, ý chí của cá nhân đó. Nó có xu thế điều chỉnh hành vi, hành động của cá nhân.

- Nhu cầu là biểu hiện đầu tiên của tính tích cực của cá nhân, nó có tác dụng xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó đối với hiện thực và đối với bản thân, xét đến cùng nó xác định lối sống và hoạt động của cá nhân.

- Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động, nhưng đồng thời hoạt động lại làm nảy sinh và phát triển những nhân cách mới. Sự phong phú và đa dạng của nhu cầu phụ thuộc vào sự phong phú và đa dạng của hoạt động.

Kết luận về giáo dục nhu cầu: Phải tổ chức các hoạt động thường xuyên với nội dung và hình thức phong phú đa dạng, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.

d. Bản chất xã hội của nhu cầu con người (So sánh với con vật để thấy rõ sự phát triển)

- Con người có khả năng lao động nên hơn hẳn con vật, con người không chỉ sử dụng những cái có sẵn trong tự nhiên để thoả mãn nhu cầu của mình mà con người còn sáng tạo ra những công cụ lao động, sử dụng các công cụ lao động để tác động vào tự nhiên, bắt tự nhiên thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của mình. (Con vật chỉ thoả mãn nhu cầu nhờ những cái có sẵn trong tự nhiên).

- Nhu cầu của con người được phát triển không ngừng cùng với sự phát triển xã hội, xã hội càng phát triển, công cụ lao động càng hiện đại, do đó con người có thể tác động vào tự nhiên càng có hiệu quả hơn. Nhu cầu của con người nhớ đó cũng trở nên phong phú, phức tạp hơn.

- Nhu cầu của con người vô cùng phong phú, ngoài những nhu cầu vật chất, tinh thần, con người còn có nhu cầu xã hội

- Con người là một thực thể có ý thức, nên con người có thể nhận thức được nhu cầu của mình, đối tượng, điều kiện, phương thức thoả mãn nó, có thể nhận thức được vai trò của nhu cầu đối với đời sống cá nhân và xã hội, do đó con người có khả năng kiềm chế hoặc từ bỏ những nhu cầu không có lợi cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Mặt khác con người cũng có thể làm nảy sinh hoặc phát triển những nhu cầu có lợi cho sự phát triển của bản thân và xã hội, làm cho cuộc sống của con người khác hẳn cuộc sống của con vật.

e. Các loại nhu cầu

Dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau có những cách phân loại khác nhau. Thông thường người ta thường phân loại nhu cầu thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, nhưng ở thời đại ngày nay có phần cách phân loại như trên còn chưa rõ ràng.

- Các nhu cầu về đối tượng tinh thần; văn hoá, thẩm mỹ,…chỉ có ở con người.

- Những nhu cầu tinh thần chứng tỏ trình độ phát triển cao của nhân cách.

- Nhu cầu xã hội thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người (nhu cầu giao tiếp, nhu cầu lao động, nhu cầu hoạt động xã hội,…).

- Nhu cầu giao tiếp được hình thành và phát triển trong hoạt động của con người, nó là một điều kiện cần thiết để tổ chức các hoạt động xã hội. “Xét về mặt bản chất thì con người là một thực thể đồng cảm, mỗi người đều chia vui sẻ buồn với những người khác”.

- Nhu cầu hoạt động, lao động khiến cho con người biết được niềm vui, niềm hạnh phúc khi mà ta làm được một việc gì đó vì lợi íc chung, thấy được ý nghĩa của cuộc đời mình.

- Nhu cầu hoạt động xã hội có được niềm vui khi cùng làm với những người khác.

- Nhu cầu tự khẳng định là sự cần thiết được coi là một thành viên của tập thể trước con mắt của bản thân và những người xung quanh.

g. Lý thuyết phân cấp nhu cầu của A.Maslaow (1954)

- Nhu cầu sinh lý (Sinh ra đã có)

- Nhu cầu an toàn (anh ninh) đó là con người có nhu cầu tránh những nguy hiểm về cơ thể và tinh thần, tránh sự đe doạ về nhà ở, thức ăn, việc làm,…

- Nhu cầu liên kết và chấp nhận (sở thuộc) tức là nhu cầu được xem là thành viên của xã hội, muốn được sống cùng trong xã hội và muốn được người khác thừa nhận sự tồn tại của mình.

- Nhu cầu về sự tôn trọng: Khi con người được thoả mãn nhu cầu được chấp nhận là một thành viên của xã hội thì con người sẽ nảy sinh lòng tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Việc thoả mãn nhu cầu này làm xuất hiện ở con người sự uy tín, lòng tin, địa vị.

- Nhu cầu tự thân vận động hay nhu cầu phát huy bản ngã, chính nhu cầu này làm cho tiềm năng của con người đạt đến mức tối đa, thúc đẩy con người đạt được mục tiêu nào đó.

Kết luận về nhu cầu: Các nhu cầu của con người được thể hiện ở chủ thể dưới dạng ước ao, chính nó điều chỉnh hoạt động của con người, làm xuất hiện các hoạt động của con người. Do vậy khi có một đối tượng của nhu cầu vạch phương hướng cụ thể cho hoạt động thì đối tượng đó vừa đáp ứng ứng được nhu cầu vừa trở thành động cơ thúc đẩy hoạt động.

3.3.2. Hứng thú

a. Khái niệm hứng thú

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm.

Theo đó, hứng thú gồm 2 yếu tố cũng là 2 đối tượng sinh ra hứng thú :

- Yếu tố nhận thức : Đối tượng phải có ý nghĩa đối với đời sống cá nhân.

- Yếu tố cảm xúc : Đối tượng phải có khả năng hấp dẫn, tạo ra những khoái cảm. Chính vì đặc điểm này mà hứng thú lôi cuốn con người hướng về phía nó, tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận và đi sâu tìm hiểu nó. Đây là đặc trưng quan trọng của hứng thú giúp ta phân biệt nhu cầu và hứng thú, và không thể đồng nhất nhu cầu và hứng thú cho dù nhu cầu và hứng thú có mối quan hệ mật thiết. (Trong hứng thú có nhu cầu, nhưng trong nhu cầu chưa chắc đã có hứng thú).

b. Vai trò của hứng thú

- Hứng thú đem lại cảm giác khoan khoái, dễ chịu hay thoải mái khi hoạt động lao động.

- Hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ;

- Hứng thú làm tăng sức làm việc;

- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo.

c. Biểu hiện của hứng thú:

- Cá nhân tập trung, chú ý cao độ vào đối tượng làm cho mình hứng thú.

- Cá nhân bị nội dung hoạt động, đối tượng làm cho say mê, hấp dẫn.

- Giữa người này và người khác có thể khác nhau ở bề rộng hay chiều sâu của hứng thú.

d. Phân loại hứng thú

- Hứng thú tích cực

- Hứng thú thụ động

Hứng thú sâu thì thường hẹp, hứng thú rộng thì thường không sâu, phải hình thành hứng thú sâu nhưng không nên hẹp quá.

e. Các con đường để hình thành hứng thú cho học sinh :

- Tổ chức giờ học phong phú, hấp dẫn.

- Phải giúp học sinh thấy rõ được vai trò của hứng thú

- Không nên tổ chức giờ học quá căng thẳng, nặng nề.

- Tạo dư luận tích cực đối với công việc học tập và sinh hoạt

3.3.3. Lý tưởng

a. Khái niệm lý tưởng

Lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người vươn tới nó.

Theo các nhà duy tâm, lý tưởng là lý tưởng, cuộc sống là cuộc sống, lý tưởng khác cuộc sống, tách rời cuộc sống.

Theo các nhà duy vật biện chứng, lý tưởng cao hơn hiện thực, đi trước hiện thực nhưng xuất phất từ hiện thực cuộc sống, là hình ảnh của hiện thực.

b. Đặc điểm của lý tưởng

- Lý tưởng vừa mang tính hiện thực vừa mang tính lãng mạn.

+ Tính hiện thực thể hiện ở chỗ, lý tưởng là do cá nhân tự xây dựng nên, hình ảnh của lý tưởng được xây dựng từ chất liệu của hiện thực. Lý tưởng được xác định bởi sự nhận thức sâu sắc của cá nhân, về những điều kiện chủ quan và khách quan của bản thân trong sự vươn tới mục tiêu. Lý tưởng thúc đẩy con người hành động để biến mục tiêu thành hiện thực.

+ Tính lãng mãn thể hiện ở chỗ, mục tiêu của lý tưởng bao giờ cũng là cái gì đó có thể đạt được trong tương lai, mục tiêu đó có thể đi trước hiện thực một chừng mực nhất định để phản ánh xu thế phát triển của con người. Cá nhân luôn luôn mong muốn mình đạt được một cái gì đó tốt đẹp hơn, hoàn chỉnh hơn.

- Lý tưởng mang tính xã hội, lịch sử và giai cấp.

c. Chức năng của lý tưởng

- Lý tưởng là biểu hiện và biểu hiện tập trung nhất của xu hướng cá nhân, vì lý tưởng xác định mục đích sống của cá nhân, mục tiêu và chiều hướng phát triển của cá nhân.

- Lý tưởng là động lực thúc đẩy, điều khiển toàn bộ hoạt động của con người.

- Lý tưởng được xây dựng từ nhận thức đầy đủ cộng với tình cảm, cộng với ý chí mạnh mẽ do đó tạo cho con người có một sức mạnh phi thường vượt qua mọi khó khă trở ngại, thậm chí không sợ hy sinh để đạt tới mục đích.

- Lý tưởng trực tiếp chi phối sự hình thành, phát triển tâm lý của cá nhân.

3.3.4. Thế giới quan và niềm tin

- Thế giới quan là hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và bản thân được hình thành ở mỗi người và xác định phương trâm hành động ở người đó.

Định nghĩa trên, vế thứ nhất “thế giới quan là hệ thống quan điểm của cá nhân về tự nhiên, xã hội và bản thân được hình thành ở mỗi người” đã đề cập đến nội dung của thế giới quan; vế thứ hai “xác định phương châm hành động của người đó” đã đề cấp đến vai trò của thế giới quan.

- Đặc điểm của thế giới quan :

+ Thế giới quan mang bản chất xã hội - lịch sử một cách rõ nét, nó phản ánh bản chất xã hội, tồn tại xã hội.

+ Thế giới quan có thể được hình thành trực tiếp trong cuộc sống, hoạt động, trong quan hệ xã hội của mỗi người.

+ Thế giới quan mang tính giai cấp rõ rệt, không có thế giới quan của mọi giai cấp.

+ Thế giới quan có thể thay đổi khi điều kiện sống, môi trường sống thay đổi. Trong xã hội tồn tại nhiều thế giới quan khác nhau vì tồn tại nhiều hệ thống quan điểm khác nhau. Giai cấp nào đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất sẽ có thế giới quan khoa học nhất.

+ Thế giới quan có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Do thế giới quan khác nhau, người ta nhận thức về thế giới khác nhau, thậm chí có thể trái ngược nhau. Do đó mà hành động của mỗi người cũng khác nhau.

+ Toàn bộ những thuộc tính tâm lý cá nhân đặc biệt là lý tưởng đều được hình thành và phát triển dưới ánh sáng của thế giới quan.

Thế giới quan khoa học là thế giới quan duy vật biện chứng mang tính khoa học, tính nhất quán cao.

- Các phẩm chất cơ bản của thế giới quan :

+ Tính khoa học, có những quan điểm chính xác, hợp lôgíc về bản chất, quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và bản thân.

+ Tính hệ thống và tính nhất quán: tức là quan điểm của cá nhân ở mọi lúc, mọi nơi về cùng một vấn đề phải nhất quán với nhau, phải liên kết với nhau thành một hệ thống duy nhất.

+ Tính khái quát và tính cụ thể : Tính khái quát giúp cá nhân có tầm nhìn rộng, vạch ra được những nguyên tắc chung chỉ đạo hành động, giúp cá nhân biết xử lý trong các tình huống khác nhau của cuộc sống, biết nhìn trước các hậu quả của tương lai của việc xử lý đó; Tính cụ thể giúp cá nhân nhìn nhận và giải quyết đúng đắn các vấn đề trong cuộc sống.

+ Tính hiệu lực, đây là mức độ thể hiện thế giới quan của cá nhân trong hoạt động để cải tạo thực tiễn xã hội và bản thân.

- Vai trò của thế giới quan.

+ Thế giới quan là cơ sở cho mọi hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của cá nhân. Nó quyết định thái độ của con người đối với hiện thực xung quanh.

+ Thế giới quan cần thiết cho con người để định hướng, để xác định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển của xã hội.

- Niềm tin là thế giới quan đã được kiểm nghiệm, thể nghiệm. Niềm tin là một sản phẩm của thế giới quan, là kết tinh các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí được con người thể nghiệm, trở thành chân lý bền vững trong mỗi cá nhân. Niềm tin tạo cho con người nghị lực, ý chí để hành động theo quan điểm của mình, niềm tin là lẽ sống của con người.

Tóm lại, xu hướng là động lực cơ bản trong hoạt động của cá nhân, nó xác định phương hướng, điều khiển và điều chỉnh sự hình thành và phát triển toàn bộ các thuộc tính tâm lý cá nhân làm cho chúng kết hợp hài hoà với nhau trong một thể thống nhất.

3.4. Động cơ của nhân cách

* Vấn đề động cơ là vấn đề trung tâm trong cấu trúc nhân cách. A.N.Lêonchiev cho rằng : “Sự hình thành nhân cách của con người biểu hiện về mặt tâm lý học trong sự phát triển về mặt động cơ của nhân cách”.

- Động cơ theo nghĩa rộng nhất được hiểu là cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của tính tích cực đó. Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi.

- Quan điểm duy lý coi nguồn gốc động cơ được tìm thấy trong tư duy, các động cơ đi từ ý thức.

- Quan điểm sinh học hóa động cơ giải thích nguồn gốc của động cơ chủ yếu trên bình diện sinh vật, coi bản năng và những nhu cầu sinh vật là nguồn năng lượng, động lực chủ yếu thúc đẩy con người hoạt động.

- Các nhà tâm lý học Xô viết quan niệm động co là sự phản ánh nhu cầu. Những đối tượng đáp ứng nhu cầu này hay nhu cầu khác tồn tại trong hiện thực khách quan, một khi chúng bộc lộ ra, được chủ thể nhận biết, ý thức được thì sẽ thúc đẩy, hướng dẫn con người hoạt động. Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ hoạt động. Động cơ là sự biểu hiện chủ quan của nhu cầu. X.L.Rubinstêin viết : “Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi của con người bởi thế giới. Sự quy định này được thể hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động cơ đó”.

* Nhìn chung, các nhà tâm lý học đều thống nhất với nhau rằng, trong nhân cách có hệ thống các động cơ được sắp xếp theo thứ bậc. Thứ bậc này không phải là bất biến mà có tính cơ động, mềm dẻo, có thể thay đổi, tùy theo các điều kiện cụ thể. Hoạt động của con người có thể có nhiều động cơ thúc đẩy, song bao giờ cũng có động cơ chiếm ưu thế, đây chính là động cơ có sức thức đẩy mạnh nhất, quyết định hoạt động của cá nhân.

* Toàn bộ các thành phần, các mặt biểu hiện của xu hướng nhân cách như nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin, thế giới quan,…là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách, là động lực trực tiếp của hành vi.

* Có nhiều cách phân loại động cơ như :

+ Động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ;

+ Động cơ quá trình và động cơ kết quả;

+ Động cơ gần và động cơ xa;

+ Động cơ cá nhân, động cơ xã hội, động cơ công việc;

+ Động cơ bên ngoài và động cơ bên trong.

4. Tính cách

4.1. Định nghĩa tính cách

Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống thái độ của nó đối với hiện thực, và thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng.

- Trong cuộc sống thường ngày ta thường dùng các từ “tính tình”, “tính nết”, “tư cách” để chỉ tính cách. Những nét tính cách tốt thường được gọi là “đặc tính”, “tấm lòng”, “tinh thần”,...Những nét tính cách xấu thường được gọi là “thói”, “tật”,...

- Tính cách mang tính ổn định và bền vững, tính thống nhất và đồng thời cũng mang tính độc đáo, riêng biệt, điển hình cho mỗi cá nhân. Vì thế, tính cách của cá nhân là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái điển hình và cái cá biệt. Tính cách của cá nhân chịu sự chế ước của xã hội.

* Tính cá biệt, điển hình của tính cách được thể hiện ở chỗ :

+ Tính cách thuộc về bản chất cá nhân, mang nặng dấu ấn của chủ thể. Vì vậy, khi hiểu tính cách con người có thể đoán được cách cư xử của người ấy trong một tình huống cụ thể nào đó.

+ Tính cách không phải là bẩm sinh, di truyền, mà nó được hình thành trong quá trình sống và hoạt động, giao tiếp của con người với tư cách là một thành viên của xã hội.

+ Tính cách cá nhân phụ thuộc rất nhiều và thế giới quan, niềm tin, lý tưởng và vị trí xã hội của người ấy.

4.2. Cấu trúc của tính cách

4.2.1. Tính cách có cấu trúc rất phức tạp, bao gồm hệ thống thái độ và hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng :

a. Hệ thống thái độ của tính cách bao gồm 4 mặt sau đây :

- Thái độ đối với tập thể và xã hội, thể hiện qua nhiều nét tích cách như : lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, thái độ chính trị, tinh thần đổi mới, tinh thần hợp tác cộng đồng,...

- Thái độ đối với lao động, thể hiện ở những nét tính cách cụ thể như : lòng yêu lao động, cần cù, sáng tạo, lao động có kỷ luật, tiết kiệm, đem lại năng suất lao động cao,...

- Thái độ đối với mọi người, thể hiện ở những nét tính cách như : lòng yêu thương con người theo tinh thần nhân đạo, quá trọng con người, có tinh thần đoàn kết, tương trợ, tính cởi mở, tính chân thành, thẳng thắn, công bằng,...

- Thái độ đối với bản thân, thể hiện ở những nét tính cách như : tính khiêm tốn, lòng tự trọng, tinh thần tự phê bình,...

b. Hệ thống hành vi, cử chỉ và cách nói năng tương ứng của cá nhân

- Đây là sự thể hiện cụ thể ra bên ngoài của hệ thống thái độ của tính cách. Hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng của tính cách rất đa dạng, chịu sự chi phối của hệ thống thái độ.

- Người có tính cách tốt, nhất quán thì hệ thống thái độ sẽ tương ứng với hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng. Trong đó thái độ là mặt nội dung, mặt chỉ đạo, còn hành vi, cử chỉ, cách nói năng là hình thức biểu hiện của tính cách, chúng không tách rời nhau, thống nhất hữu cơ với nhau.

4.2.2. Phân tích cấu trúc tính cách thông qua những thành phần tâm lý tham gia vào tính cách :

+ Xu hướng là mặt chủ đạo của tính cách, các thuộc tính của xu hướng quyết định phương hướng, động cơ của tính cách.

+ Tình cảm là nội dung chủ yếu của tính cách, hệ thống thái độ của con người là do sự căm ghét, yêu thích thực sự của người đó quy định, tình cảm cũng góp phần thể hiện mặt cường độ của hệ thống hành vi.

+ Ý chí là sức mạnh là trụ cột của tính cách, những nét ý chí có ý nghĩa đặc biệt đối với hành vi của con người, chúng biểu hiện kỹ năng điều khiển một cách có ý thức hoạt động của bản thân, năng lực quyết định và thực hiện quyết định đó, thực hiện được mục tiêu đã chọn.

+ Khí chất ảnh hưởng đến hình thức biểu hiện của tính cách.

+ Hệ thống kĩ năng, kĩ xảo, thói quen.

4.3. Các nét tính cách

- Tính cách là một thể thống nhất không thể tách rời của các nét tính cách, các phẩm chất cá nhân. Mỗi hành vi của con người luôn luôn do toàn bộ nhân cách cá nhân quy định, nhưng thường thường thì mỗi nét tính cách lại có ý nghĩa riêng của nó, tuỳ thuộc vào mối liên quan của nó với những nét tính cách khác của nhân cách cá nhân.

VD: Mạnh dạn + sự thận trọng

Mạnh dạn +dễ xung động

Mạnh dạn + kiên trì (dễ đạt được mục tiêu)

Mạnh dạn + bướng bỉnh (dễ dẫn tới sai lầm)

Mạnh dạn + đạo đức cao cả

Mạnh dạn + ghen tỵ

- Những nét tính cách thể hiện thái độ của cá nhân đối với xã hội, đối với người khác, được thể hiện như sau :

+ Tinh thần tập thể: cá nhân coi mình là một bộ phận không thể tách rời của nhóm, của tập thể, từ đó tôn trọng tập thể, muốn tham gia vào công việc chung của tập thể.

+ Tính nhân đạo, đó là thái độ ân cần, thân ái với mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần, quan tâm, thông cảm với những người xung quanh, biết động viên, khuyến khích người khác.

- Các nét tính cách thể hiện thái độ của con người đối với hoạt động, đối với lao động, đối với công việc đang thực hiện :

+ Lòng yêu lao động, yêu công việc đang thực hiện, có nhu cầu hoàn thành công việc, tận tâm với công việc, và muốn hoàn thành sớm nhất công việc, có sáng kiến với công việc,…

+ Tính tiết kiệm, thái độ tôn trọng công cụ lao động, sản phẩm lao động, tôn trọng người lao động,…

- Thái độ đối với bản thân :

+ Khiêm tốn, hiểu rõ được thành tích của tập thể, của những người khác quan trọng hơn của cá nhân, không cố nhấn mạnh mặt trội của mình so với người khác, giản dị, tự nhiên trong giao tiếp với mọi người.

+ Tự phê phán và yêu cầu cao đối với bản thân, tự trọng trên cơ sở ý thức được giá trị của bản thân.

4.4 Sự hình thành tính cách

- Những cơ sở của tính cách, những nét tính cách đầu tiên đã được phác thảo ngay từ trước tuổi học, nó được hình thành trong hoạt động vui chơi, trong giao tiếp của trẻ (ví dụ như tính bạo dạn, kiên trì, tự kiềm chế, sáng kiến,…)

- Khi đến trường, trẻ bắt đầu một giai đoạn mới trong việc hình thành tính cách.

+ Học tập là hoạt động mà xã hội yêu cầu và đánh giá, chính hoạt động học đã đề ra cho trẻ những yêu cầu mới, nó đòi hỏi và làm phát triển ở trẻ tính tổ chức, tính mục đích, tính kiên trì, cẩn thận, ý thức kỷ luật.

+ Quan hệ với bạn bè, với thầy cô giáo làm phát triển ở trẻ ý thức nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm.

+ Tình bạn và cuộc sống ở trường làm hình thành ở trẻ kĩ năng và nhu cầu coi trọng ý kiến của người khác, của tập thể.

+ Việc đánh giá của giáo viên ở trường về học sinh giúp cho các em có thể đối chiếu hành vi của mình với hành vi của bạn và tập đánh giá đúng hành vi của bản thân.

Có thể thấy, nếu tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú, đa dạng mang tính giáo dục cao thì môi trường học tập có ảnh hưởng rất lớn đến tính cách của trẻ.

- Đến tuổi thiếu niên, những nét tính cách của trẻ đặc biệt phát triển nhanh :

+ Người lớn tôn trọng trẻ hơn, đề ra những yêu cầu cao hơn cho trẻ, mặt khác chính các em cũng muốn trải nghiệm làm người lớn.

+ Trong quan hệ với mọi người, thiếu niên cố gắng tham gia ngày càng tích cực hơn vào các hoạt động cuộc sống, thái độ tự giác của các em ngày càng phát triển khi được tham gia vào các hoạt động tập thể lớn, hoạt động của các em dần dần tuân theo những động cơ có tính chất xã hội (như động cơ tinh thần trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ đối với tập thể, với nhóm)

- Đến tuổi thanh niên, hoạt động học tập và lao động có ý nghĩa lớn đối với sự hoàn thiện tính cách. Tự ý thức phát triển mạnh ở tuổi thiếu niên, sang đến tuổi thanh niên nó trở nên mạnh mẽ, sôi nổi hơn và sâu sắc hơn. Chính vì thế mà nó tạo điều kiện to lớn cho sự phát triển nhân cách, tạo điều kiện cho hoạt động tự giáo dục, tự hoàn thiện ở bản thân những phẩm chất xã hội.

4.5 Kết luận sư phạm cho việc giáo dục tính cách

- Phải chú ý hình thành xu hướng vì đó là những điều kiện cần thiết để giáo dục tính cách

- Phải tổ chức các hoạt động, tổ chức các mối quan hệ qua lại tích cực giữa con người với con người và giữa cá nhân với thế giới xung quanh, để cá nhân có được những trải nghiệm thực tế về hành vi đúng đắn.

- Tính cách được rèn luyện qua những khó khăn và việc khắc phục những khó khăn đó.

- Tập thể và dư luận tập thể, vai trò kiểm tra của tập thể có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tính cách.

5. Khí chất

5.1. Định nghĩa về khí chất

Khí chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tiến độ và nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái của hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân.

- Khí chất có cơ sở thần sinh lý là các kiểu thần kinh, quy định nhịp độ, tiến độ của các hoạt động tâm lý. Do đó là nguyên nhân gây ra sự khác biệt rõ rệt trong những đặc điểm bên ngoài của hành vi con người. Tuy nhiên, khí chất mang bản chất xã hội.

- Khí chất không định trước giá trị đạo đức, giá trị xã hội của cá nhân như một nhân cách. Người có khí chất khác nhau có thể có chung một giá trị đạo đức, giá trị xã hội như nhau. Ngược lại, có những người có cùng khí chất như nhau nhưng có thể rất khác nhau về giá trị đạo đức, giá trị xã hội.

5.2. Khí chất và các thuộc tính tâm lý của nhân cách

- Khí chất không định trước những nét tính cách mà chỉ có liên hệ chặt chẽ với tính cách. Các nét tính cách khi thể hiện ra bên ngoài dưới hình thức các hành vi xã hội thường mang sắc thái của một khí chất này hay khí chất khác.

- Khí chất không định trước trình độ và năng lực của cá nhân. Những người có cùng khí chất có thể có năng lực khác nhau. Những người có cùng một loại năng lực có thể thuộc nhiều kiểu khí chất khác nhau.

Như vậy, có thể thấy khí chất không định trước các thuộc tính phức hợp của nhân cách, song các đặc điểm về động thái trong sự thể hiện của tất cả các thuộc tính nhân cách đều bị phụ thuộc vào khí chất ở một mức độ nhất định.

5.3. Các kiểu khí chất và cơ sở sinh lý của chúng

5.3.1. Định nghĩa: Kiểu khí chất là sự kết hợp khác nhau của những thuộc tính khí chất, có quan hệ qua lại với nhau một cách có quy luật.

5.3.2. Cơ sở sinh lý thần kinh của chúng: Học thuyết của Paplốp về các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao đã cho phép giải thích được cơ sở sinh lý thần kinh của các kiểu khí chất một cách khoa học :

Minh họa các kiểu khí chất và cơ sở sinh lý thần kinh của chúng :

Kiểu HĐTKCC cơ bản

Kiểu khí chất tương ứng

Mạnh – cân bằng – linh hoạt

Hăng hái, hoạt bát

Mạnh – cân bằng – không linh hoạt

Bình thản

Mạnh – không cân bằng

(Hưng phấn mạnh hơn ức chế)

Nóng nảy

Yếu

Ưu

 

 

5.3.3. Đặc điểm của các kiểu khí chất điển hình

a. Kiểu hăng hái, hoạt bát (mạnh – cân bằng – linh hoạt)

- Người thuộc kiểu thần kinh này thường có những đặc điểm sau :

Kiểu khí chất hăng hái, hoạt bát (mạnh – cân bằng – linh hoạt)

Ưu điểm

Nhược điểm

+ Linh hoạt, hăng hái, hoạt bát, sôi nổi, tháo vát, sáng tạo;

+ Luôn hướng về tập thể;

+ Luôn sống lạc quan, vui vẻ, cởi mở, thiện chí và ưa dí dỏm;

+ Tích cực học tập, lao động và công tác xã hội;

+ Luôn muốn thay đổi ấn tượng với người khác, không chịu được những hoạt động đơn điệu kéo dài;

+ Tâm tính thường hay thay đổi nhưng chủ yếu là trạng thái thoải mái, cân bằng;

+ Dễ quen, dễ thích nghi;

+ Những thất bại và những điều khó chịu đối với họ có tính chất nhẹ nhàng.

+ Cảm xúc không mạnh, không sâu, dễ hình thành và cũng dễ thay đổi;

+ Dễ hấp tấp, vội vàng, thiếu kiên trì.

 

- Những đại diện : Napôlêông, Lécmantốp, Môda

- Những học sinh thuộc kiểu khí chất này thường có những đặc điểm sau :

* Ưu điểm :

+ Có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, vui vẻ, dễ ham mê, lạc quan;

+ Quan hệ rộng rãi, dễ thân, dễ gần;

+ Trong học tập các em tiếp thu nhanh, mạnh dạn phát biểu ý kiến, rất nổi trong tập thể, thích tham gia hoạt động, dễ di chuyển chú ý;

+ Dễ nhìn thấy thiếu sót và dễ tiếp thu phê bình.

* Nhược điểm : Nhận thức rộng mà không sâu; thiếu kiên trì, bền bỉ; chóng chán; dễ phân tán tập trung.

b. Kiểu bình thản (mạnh – cân bằng – không linh hoạt)

- Những người thuộc kiểu thần kinh này thường có những đặc điểm sau :

Kiểu khí chất bình thản (mạnh – cân bằng – không linh hoạt)

Ưu điểm

Nhược điểm

+ Thường bình thản và thăng bằng;

+ Luôn thong thả, ung dung, đĩnh đạc, không bao giờ hấp tấp;

+ Chín chắn, ít bị kích động;

+ Luôn bình tĩnh giải quyết khó khăn trong cuộc sống;

+ Làm việc chu đáo, thận trọng;

+ Thích trật tự, ngăn nắp và hoàn cảnh quen thuộc;

+ Ít cởi mở, ít biểu hiện rõ cảm xúc và trạng thái tình cảm ra bên ngoài.

+ Có tính ỳ, và không linh hoạt;

+ Khó thích nghi với môi trường mới;

- Những đại diện : M.I.Cutudốp, I.Niutơn, Nhà thơ A.Crưlốp

- Những học sinh có kiểu khí chất này thường có những đặc điểm sau :

* Ưu điểm :

+ Cần cù, chịu khó, chăm chỉ học tập;

+ Nhận thức không nhanh, nhưng chắc và sâu;

+ Nghiêm túc trong học tập và có tinh thần trách nhiệm với công việc, nhưng phản ứng chậm với những tác động;

* Nhược điểm :

+ Thường có vẻ kín đáo, ít cởi mở, ít chan hòa với bạn bè, ít tham gia các hoạt động sôi nổi;

+ Khi thay đổi giờ học, môn học, giáo viên, ...sự di chuyển tập trung thường chậm;

+ Thiếu linh hoạt, chậm chạp;

+ Thường do dự, bỏ lỡ cơ hội.

c. Kiểu nóng nảy (mạnh – không cân bằng)

- Những người thuộc kiểu khí chất này thường có những đặc điểm sau :

 

 

 

 

Kiểu khí chất nóng nảy (mạnh – không cân bằng)

Ưu điểm

Nhược điểm

+ Hành động nhanh, mạnh, hào hứng, tích cực, say mê làm việc, nhiệt tình, dám nghĩ dám làm, ngay thẳng, dũng cảm;

+ Phản ứng mạnh và kiên quyết;

+ Các rung cảm diễn ra với nhịp độ nhanh;

+ Cảm xúc bộc lộ rõ rệt qua nét mặt và ngôn ngữ;

+ Thường là người thật thà, thẳng thắn, không quanh co.

+ Tính phản ứng mạnh lấn át tính tích cực;

+ Say mê trong công việc nhưng nhiều khi lại mất cân bằng, dễ có những thay đổi đột ngột trong tâm trạng, có những cảm xúc bột phát;

+ Dễ bốc đồng mà cũng dễ “xẹp”;

+ Gay gắt, cục cằn.

- Các đại diện : A.Puskin, nhà quân sự A.E.Xuvôrốp, nhà cách mạng M.Rôbespie

- Những em học sinh thuộc kiểu khí chất này thường có những đặc điểm sau :

* Ưu điểm :

+ Hay xung phong nhận nhiệm vụ và quyết tâm làm cho bằng được bất chấp khó khăn;

+ Thường là những học sinh hăng hái đi đầu;

+ Có hứng thú với những hoạt động có tính chất “động”;

+ Hăng hái, sôi nổi trong hoạt động;

+ Nhiệt tình, hay giúp đỡ bạn bè.

* Nhược điểm :

+ Thiếu kiên trì, hay vội vàng, hấp tấp;

+ Thường hay cáu gắt khi không vừa ý;

+ Dễ bị kích thích;

+ Tự kiềm chế kém, hay tự ái, dễ nổi nóng, dễ phát khùng dẫn đến hành động vô tổ chức, vô kỷ luật bất chấp hậu quả.

d. Kiểu ưu tư (Kiểu thần kinh yếu)

- Những người thuộc kiểu thần kinh này thường có những đặc điểm sau :

Kiểu khí chất ưu tư (kiểu thần kinh yếu)

Ưu điểm

Nhược điểm

+ Có thiên hướng ngẫm nghĩ sâu;

+ Các trạng thái cảm xúc nảy sinh chậm nhưng lại mạnh – sâu – lâu - bền;

+ Các quá trình tâm lý diễn ra chậm chạp, ở trong hoàn cảnh quen thuộc và tâm trạng thanh thản họ cảm thấy bình an và làm việc có hiệu quả;

+ Thường có sự nhạy bén, tinh tế về cảm xúc, giàu ấn tượng, trong quan hệ thường mềm mỏng, tế nhị, nhã nhặn, chu đáo và vị tha;

+ Xúc cảm khó nảy sinh nhưng rất sâu sắc, có cường độ mạnh và bền vững.

+ Hoạt động chậm chạm, chóng mệt mỏi, luôn hoài nghi, lo lắng, thiếu tự tin, hay u sầu, buồn bã;

+ Sống khép kín, tránh giao tiếp với những người lạ, họ thường hay sống với nội tâm của mình;

+ Đặc biệt là họ khó thích nghi với môi trường mới;

+ Có “tính đau khổ” cao.

- Những đại diện : Gôgôn, P.I.Traicốpxki

- Những học sinh thuộc kiểu khí chất này thường có những đặc điểm sau :

* Ưu điểm :

+ Nhận thức chậm nhưng sâu sắc;

+ Suy nghĩ chín chắn, biết nhìn xa trông rộng;

+ giàu ấn tượng, nhạy bén, tinh tế;

+ Đặc biệt nổi bật là hiền dịu, dễ cảm thông với mọi người;

+ Tình cảm tế nhị, bền vững;

+ Kiên trì chịu đựng, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ;

+ Trong hoàn cảnh không thay đổi các em này thường làm việc hiệc quả.

* Nhược điểm :

+ Bề ngoài thường ủy mị, yếu đuối, hay lo lắng;

+ Rụt rè, nhút nhát, hay tự ti, sống khép kín;

+ Xa lánh trốn đông người, không thích những hoạt động náo nhiệt;

+ Thường mộng mơ, đắm chìm trong thế giới nội tâm.

5.4. Kết luận cho việc giáo dục khí chất

Mỗi kiểu khí chất ở trên đều có những mặt mạnh, mặt yếu riêng. Trên thực tế, thường gặp ở một người có những nét của kiểu thí chất nào đó chiếm ưu thế, nhưng đồng thời lại có những nét riêng lẻ nào đó thuộc kiểu khí chất khác. Ngoài ra, còn có những kiểu khí chất trung gian bao gồm nhiều đặc tính của cả bốn kiểu khí chất trên. Mặc dù khí chất có cơ sở sinh lý là các kiểu thần kinh nhưng khí chất vẫn chịu sự chi phối của các đặc điểm xã hội, và biến đổi do rèn luyện và giáo dục. Vì thế trong giáo dục phải chú ý :

- Phải hiểu khí chất của người khác để có những tác động thích hợp.

- Phát huy mặt mạnh của mỗi kiểu khí chất và hạn chế những mặt tiêu cực của các kiểu khí chất đó.

- Phải giáo dục khí chất trong việc kết hợp giáo dục các kiểu khí chất khác nhau.

6. Năng lực

6.1. Khái niệm năng lực

Trong đa số các hoạt động, có một thực tế là bất kỳ người bình thường nào cũng có thể tiếp thu một số kiến thức, kỹ năng. Song trong những điều kiện bên ngoài như nhau thì những người khác nhau có thể tiếp thu những kiến thức, kỹ năng ở những mức độ với những tốc độ, nhịp độ khác nhau. Thực tế trên là do năng lực của họ khác nhau. Ngoài ra có một số lĩnh vực hoạt động chỉ những người có năng lực nhất định mới có thể đạt được kết quả.

Năng lực là tổng hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân đáp ứng yêu cầu đặc trưng của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động ấy đạt kết quả cao.

* Một số đặc điểm của năng lực :

- Năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý xuất sắc nào đó mà nó là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân.

- Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. Năng lực và là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy.

- Năng lực là sản phẩm của lịch sử. Sự phân công và chuyên môn hóa lao động đã dẫn đến sự phân hóa và chuyên môn hóa năng lực con người. Mặt khác, mỗi khi nền văn minh nhân loại dành được những thành tựu mới thì lại xuất hiện ở con người những năng lực mới và những năng lực đã có trước đây bây giờ chứa đựng một nội dung mới.

6.2. Các mức độ của năng lực

Dựa vào tốc độ tiến hành và chất lượng sản phẩm hoạt động, người ta phân biệt 3 mức độ phát triển của năng lực đó là : năng lực, tài năng và thiên tài.

- Năng lực là khái niệm dùng để chỉ mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó (tốc độ và chất lượng hoạt động ở mức trung bình, nhiều người có thể đạt tới).

- Tài năng là mức độ năng lực cao hơn được đặc trưng bởi sự đạt được những thành tích lớn, ít người có thể sánh được. Tài năng là toàn bộ những năng lực cho phép con người thu được những sản phẩm hoạt động có đặc điểm là độc đáo và mới mẻ, có sự hoàn chỉnh cao và có ý nghĩa xã hội lớn.

Đặc điểm của tài năng là trình độ sáng tạo cao khi thực hiện một hoạt động nào đó. Hoạt động sáng tạo nhằm sản sinh ra một cái gì đó có tính chất mới mẻ mà trước đây chưa hề có. Hoạt động sáng tạo không hướng con người và việc thích ứng với những chế định xã hội, với những logic,....đã được hình thành mà hướng con người vào sự cải tạp cái cũ và tạo ra cái mới.

- Thiên tài là năng lực ở mức độ cao nhất, biểu thị sự hoàn thành một cách hoàn chỉnh nhất, cao nhất, kiệt xuất nhất, có một không hai trong một lĩnh vực hoạt động nào đó, tạo ra một thời đại mới trong lĩnh vực hoạt động của mình. Hoạt động sáng tạo của thiên tài bao giờ cũng bắt buộc phải có ý nghĩa tích cực và có ý nghĩa xã hội.

6.3. Phân loại năng lực

- Năng lực có thể chia làm hai loại : năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Hai loại năng lực này luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau.

+ Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Ví dụ như năng lực học tập, năng lực giao tiếp,...là điều kiện cần thiết giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả.

+ Năng lực chuyên biệt hay còn gọi là năng lực chuyên môn, là sự kết hợp độc đáo các thuộc tính chuyên biệt đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên môn và là điều kiện cho hoạt động này đạt kết quả tốt. Chẳng hạn như năng lực toán học, năng lực thơ văn, năng lực hội họa, năng lực âm nhạc, năng lực sư phạm,...

6.4. Cấu trúc của năng lực

6.4.1. Cấu trúc của năng lực mang tính cơ động

- Có những thuộc tính tâm lý vừa nằm trong cấu trúc của năng lực này vừa nằm trong cấu trúc của năng lực khác. Thực tế cho thấy, cá nhân có nhiều năng lực có thể tham gia tốt hoạt động A nào đó nhưng đồng thời có thể hoàn thành yêu cầu của hoạt động B. Do đó, mỗi con người có thể có nhiều năng lực chứ không bị trói buộc vào một loại năng lực, hay một loại hoạt động nào đó.

- Tính cơ động của năng lực còn thể hiện ở khả năng bù trừ của các thành phần trong cấu trúc.

- Cấu trúc của năng lực và tính cách đều vừa ổn định vừa cơ động nhưng sự cơ động trong cấu trúc năng lực cao hơn nhiều. Chính tính cơ động của năng lực giúp con người dễ dàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

6.4.2. Các thành phần trong cấu trúc năng lực

* Theo A.G.Covaliốp, năng lực bao gồm nhiều thành phần :

- Thành phần chủ đạo : bao gồm những thuộc tính quy định phương hướng hoạt động của con người.

- Thành phần chỗ dựa : bao gồm những thuộc tính có tính chất là công cụ của hoạt động.

- Thành phần làm nền : bao gồm những thuộc tính bổ sung, hỗ trợ.

Ở những năng lực khác nhau, các thành phần chủ đạo, chỗ dựa, làm nền của năng lực sẽ khác nhau.

* K.K.Platonốp cũng chia như vậy nhưng có cách gọi khác :

- Thành phần cơ bản;

- Thành phần chỗ dựa;

- Thành phần làm nền.

6.4.3. Đặc điểm về số lượng và chất lượng của năng lực

Năng lực của mỗi người mang những nét riêng biệt. Năng lực của mỗi người không ai giống ai, không bao giờ lặp lại cả về số lượng và chất lượng.

V.I.Lênin nói : “Hi vọng đến chủ nghĩa cộng sản có sự ngang bằng nhau về năng lực và sức lực là điều không tưởng”.

- Về số lượng : người có nhiều, người có ít năng lực.

- Về chất lượng : năng lực của người này khác năng lực của người khác trước hết về kiểu loại năng lực. Người có năng lực âm nhạc, người có năng lực hội họa, người có năng lực thể thao hoặc khoa học,...Có thể nói, trong xã hội có biêu nhiêu lĩnh vực hoạt động thì có bấy nhiêu biểu loại năng lực khác nhau. Ngay trong cùng một kiểu loại năng lực, năng lực của người này cũng khác năng lực của người khác.

6.5. Mối quan hệ giữa năng lực và tư chất, năng lực và thiên hướng, năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

6.5.1. Năng lực và tư chất

- Tư chất là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lý bẩm sinh của bộ não, của hệ thần kinh, của cơ quan phân tích, cơ quan vận động tạo ra sự khác biệt giữa con người với nhau.

- Tư chất là cơ sở vật chất của sự phát triển năng lực. Tư chất có ảnh hưởng tới tốc độ, chiều hướng và đỉnh cao phát triển năng lực.

- Tuy vậy, không thể suy ra trực tiếp rằng năng lực khác nhau là do tư chất khác nhau quyết định. Các đặc điểm bẩm sinh, di truyền có được bảo tồn và thể hiện ở thế hệ sau hay không và thể hiện ở mức độ nào, điều đó hoàn toàn do hoàn cảnh sống quyết định.

Như vậy, tư chất là một trong những điều kiện hình thành năng lực, nhưng tư chất không quy định trước sự phát triển của năng lực. Trên cơ sở của tư chất nào đó, có thể hình thành nên những năng lực rất khác nhau. Ví dụ, cùng thuộc kiểu thần kinh yếu, người này hình thành năng lực kỹ thuật, người kia lại hình thành năng lực văn học,...

Có thể kết luận rằng, dựa trên điều kiện xuất phát là tư chất, sự hình thành năng lực là quá trình hoạt động tích cực của cá nhân trong những điều kiện xã hội thuận lợi.

6.5.2. Năng lực và thiên hướng

- Khuynh hướng của cá nhân đối với một hoạt động nào đó được gọi là thiên hướng.

- Thiên hướng về một loại hoạt động nào đó và năng lực đối với hoạt động ấy thường ăn khớp với nhau và cùng phát triển với nhau. Thiên hướng mãnh liệt của con người đối với một loại hoạt động nào đó có thể coi là dấu hiệu của những năng lực đang hình thành.

6.5.3. Năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có mối quan hệ mật thiết với năng lực nhưng không đồng nhất với năng lực. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có năng lực trong lĩnh vực ấy. Không thể có năng lực toán nếu thiết đi những tri thức toàn học,...

- Ngược lại, năng lực góp phần làm cho việc tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với lĩnh vực của năng lực đó dễ dàng và nhanh chóng hơn.

- Như vậy, giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có sự thống nhất biện chứng. Một người có năng lực trong một lĩnh vực nào đấy có nghĩa là người ấy có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định của lĩnh vực này. Nhưng khi có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thuộc một lĩnh vực nào đó không nhất thiết là sẽ có được năng lực về lĩnh vực đó.

- Hình thành năng lực là một quá trình phức tạp, bao gồm trong nó quá trình tiếp thu tri thức. Bản thân quá trình hình thành năng lực là một thành tố của quá trình mang tính chất chỉnh thể và trọn vẹn nhưng rất phức tạp của sự phát triển nhân cách trong hoạt động và bằng hoạt động.

6.6. Tiền đề tự nhiên và điều kiện xã hội của sự hình thành và phát triển năng lực

6.6.1. Tiền đề tự nhiên của năng lực

Thường khi nói đến tiền đề tự nhiên của năng lực là người ta nói đến yếu tố tư chất. Thực tế đây là vấn đề phức tạp vì trong yếu tố tư chất có :

+ Cái bẩm sinh : sinh ra đã có;

+ Cái di truyền : cái tồn tại và phát triển trên cơ sở gen của bố mẹ;

+ Cái tự tạo : cái cá nhân thu được, khác thế hệ bố mẹ.

- Tư chất là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lý, đặc biệt của hệ thần kinh và những chức năng của chúng được biểu hiện trong giai đoạn hoạt động đầu tiên của con người.

- Trong cuộc sống, trong hoạt động, tư chất luôn biến đổi chứ không cố định.

- Quan điểm tâm lý học Mácxít cho rằng, các hoạt động chức năng của não và trong cấu trúc cơ thể nói chung không có ý nghĩa hiển nhiên đối với sự phát triển năng lực của con người. Tư chất không quyết định năng lực nhưng tư chất có ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực, là tiền đề tự nhiên, tiền đề vật chất của sự phát triển năng lực.

- X.L.Rubinstein cho rằng, năng lực không được quy định trước nhưng không thể đưa từ ngoài vào một cách đơn giản. Trong các cá nhân phải có tiền đề tức là điều kiện bên trong cho sự phát triển năng lực.

- Ảnh hưởng của tư chất đối với năng lực :

+ Ảnh hưởng đến chiều hướng và tốc độ của sự hình thành và phát triển năng lực : những người có tư chất phù hợp với sự phát triển năng lực tương ứng với tư chất đó thì sẽ dễ dàng phát triển năng lực ấy và dễ đạt được thành tích hơn những người không có tư chất phù hợp.

+ Về vai trò của tiền đề tự nhiên cũng cần nhấn mạnh là khi đạt đến mức độ thiên tài thì tiền đề tự nhiên này khá quan trọng. Nhưng ảnh hưởng này tới sự phát triển tài năng đang còn ở trong tình trạng tự phát.

+ Tuy nhiên, tư chất là điều kiện cần chứ chưa đủ của sự phát triển năng lực. Một người có tư chất tốt nhưng nếu không tham gia những hoạt động thích hợp thì năng lực cũng không thể phát triển được.


6.6.2. Điều kiện xã hội của năng lực (Đây là điều kiện quan trọng và quyết định).

- Năng lực vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của sự phân công lao động.

+ C.Mác nói, sự khác biệt tài hoa của con người không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của sự phân công lao động.

+ Từ thời thượng cổ cho tới nay đều có sự phân công lao động. Phân công theo sức khỏe, khả năng, trình độ. Như vậy, là khả năng, trình độ, năng lực chính là nguyên nhân của sự phân công lao động. Mặt khác, chính lao động và những yêu cầu đặc trưng riêng của nó đã góp phần phát triển năng lực. Do đó, năng lực là kết quả của sự phân công lao động.

- Năng lực của con người phát triển theo trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật.

+ Từ nền sản xuất thủ công, nền sản xuất với các nhà máy nhỏ đến nền sản xuất đại công nghiệp, năng lực của con người không ngừng phát triển.

+ Trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật đòi hỏi ở con người phải có năng lực tương ứng, phù hợp để đáp ứng với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại. Do đó và nhờ vào đó mà năng lực phát triển.

- Năng lực phụ thuộc vào chế độ xã hội

+ V.I.Lênin cho rằng “chế độ tư bản bóp nghẹt, vùi dập và làm thui chột biết bao thiên tài trong công nhân và nhân dân lao động. Những thiên tài này đã mai một trong cảnh nghèo túng, bần cùng và bị chà đạp cá tính”.

+ Chế độ phong kiến “chữ tài liền với chữ tai một vần”.

+ Trước cách mạng tháng Tám, nhân dân ta cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc lấy đâu ra điều kiện học hành. Do đó, năng lực không có điều kiện phát triển.

+ Đến nay, xã hội chúng ta đã và đang khuyến khích, tạo điều kiện cho mỗi người đều có cơ hội để phát triển tài năng của mình.

- Năng lực phụ thuộc vào hoạt động của cá nhân. Hoạt động nói chung, hoạt động lao động nói riêng là động lực sáng tạo con người. Thông qua hoạt động :

+ Cá nhân hiểu được mình, biết được khả năng của mình;

+ Làm cho cá nhân thích ứng với yêu cầu của hoạt động;

+ Hình thành cho mình những thuộc tính còn chưa có hoặc chưa phát triển tương xứng với yêu cầu của hoạt động;

+ Hoạt động cá nhân là nhân tố quyết định sự hình thành, phát triển năng lực.

6.7 Kết luận về hình thành năng lực cho cá nhân

- Phải tôn trong đặc điểm cá thể của từng cá nhân.

- Phải tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng, đưa con người vào hoạt động để họ được luyện tập, được trải nghiệm, được trưởng thành.

- Việc hình thành năng lực không tách rời với việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo.

- Muốn hình thành năng lực cho cá nhân trước hết phải hình thành xu hướng. (Vì các thuộc tính có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau).

6.8. Vấn đề phát triển và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu

Vấn đề phát hiện và bồi dưỡng trẻ em có năng khiếu trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau từ lâu đã trở thành một trong những vấn đề quốc sách của nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến vấn đề này.

Ngày nay, các nhà tâm lý học cho rằng năng lực con người có lẽ còn cao hơn nhiều những gì khoa học đã phát hiện. Càng ngày càng có nhiều những câu chuyện về các thần đồng – trẻ em có năng khiếu ở một lĩnh vực hoạt động nào đó. Vậy năng khiếu là gì ?

6.8.1. Khái niệm

- Năng khiếu là dấu hiệu phát triển sớm ở trẻ em về một tài năng nào đó khi trẻ chưa được tiếp xúc một cách có hệ thống trong lĩnh vực hoạt động tương ứng.

- Năng khiếu được bộc lộ ở nhiều khía cạnh như : tốc độ vượt trội trong việc hoàn thành một nhiệm vụ so với đồng trang lứa; thành tích xuất sắc trong một lĩnh vực nhất định; thiên hướng hoạt động mãnh liệt hoặc sáng tạo trong hoạt động ở một lĩnh vực nào đó,...

- Năng khiếu chỉ là dấu hiệu ban đầu của tài năng chứ không phải là tài năng. Một đứa trẻ có năng khiếu đối với một hoạt động nào đó không hẳn sẽ trở thành tài năng trong lĩnh vực ấy và ngược lại. Trong cấu trúc của năng khiếu mới chỉ có thành phần cơ bản giống với cấu trúc của tài năng nhưng chúng chưa ổn định, dễ thay đổi. Trong khi đó, cấu trúc của tài năng bao gồm các thành phần tâm lý ở mức độ chín muồi, được khái quát ở mức độ cao và mang tính ổn định, bền vững.

Trong sự phát triển tài năng, những thành phần xuất hiện sau (trong cấu trúc) là sự phát triển một cách logic những thành phần đã có trước kết hợp với những yếu tố mới phát sinh và những kết quả do giáo dục bồi dưỡng nên, chúng sát nhập với nhau tạo thành cấu trúc mới.

Con đường từ năng khiếu trở thành tài năng là quá trình phát triển có lúc nhanh, lúc chậm, có khi liên tục, có khi đứt đoạn. Thậm chí có thể năng khiếu không trở thành tài năng mà mai một đi. Vì vậy, vấn đề phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu là quan trọng nhưng rất khó khăn và phức tạp.

6.8.2. Bồi dưỡng năng khiếu

Để tiến hành bồi dưỡng năng khiếu cho trẻ em, chúng ta cần chú ý đến những điểm cơ bản sau :

- Thầy giáo, cô giáo cũng như các bậc cha mẹ cần chú ý phát hiện sớm những trẻ em thực sự có năng khiếu về một lĩnh vực nào đó. Năng khiếu thường xuất hiện rất sớm, nhất là trong lĩnh vực âm nhạc, hội họa và toán học. Trong tâm lý học người ta gọi thời kỳ trẻ bộc lộ năng khiếu là thời kỳ phát cảm. L.X.Vưgôtxki và A.N.Leionchiev cho rằng, đây là thời kỳ tối ưu cho sự phát triển năng khiếu. Trong thời kỳ này, nếu gặp những điều kiện khách quan thuận lợi, có những tác động thích hợp, đúng lúc thì năng khiếu sẽ phát triển nhanh, mạnh, nếu gặp điều kiện không thuận lợi, năng khiếu có thể bị thui chột đi. Ở giai đoạn này, giáo dục có tác dụng định hướng cho năng khiếu phát triển, là “bà đỡ” cho các tài năng.

- Cần nắm được thiên hướng hoạt động của trẻ. Thiên hướng rõ ràng đối với một hoạt động là dấu hiệu của một năng lực đang hình thành. Thiên hướng không chỉ là dấu hiệu của năng khiếu mà còn là yếu tố góp phần hình thành và phát triển năng khiếu. Khi trẻ có thiên hướng thực sự đối với một hoạt động nào đó thì trẻ thường hướng toàn bộ sức lực của mình vào hoạt động đó. Vì thế, trẻ dễ đạt được kết quả cao ngay từ đầu trong hoạt động ấy so với các em không có năng khiếu.

- Cần cung cấp cho trẻ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho năng khiếu phát triển. Trong thực tế, năng khiếu thường bộc lộ khi cá nhân chưa đầy đủ các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đối với lĩnh vực hoạt động ấy. Việc cung cấp những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực học sinh có năng khiếu sẽ thúc đẩy tốc độ quá trình năng khiếu trở thành tài năng. Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý rèn luyện phong cách, phương pháp tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo cho các em.

- Cần tổ chức cho trẻ em có năng khiếu được hoạt động tích cực trong lĩnh vực tương ứng. Chính hoạt động tích cực trong lĩnh vực có năng khiếu, những thành phần trong cấu trúc của năng khiếu được củng cố thêm, những thành phần mới được hình thành, những “tư chất” được “khởi động” và do đó năng khiếu ngày một phát triển.

- Cuối cùng, cần phải hình thành cho trẻ những nét tính cách tích cực, tốt đẹp như : tính độc lập, tính tổ chức, tính kiên trì, đức khiêm tốn, lòng yêu lao động,...Niutơn từng nói “Thiên tài là sự kiên trì của trí tuệ”; Eđixơn người có 1200 phát minh cũng nói “Tài năng và óc sáng tạo chỉ chiếm 1% trong phát minh, còn lại 99% là lao động, lao động cực nhọc”.

Tóm lại, chúng ta không thể đào tạo tất cả học sinh trở thành những tài năng trong các lĩnh vực khác nhau. Nhưng chúng ta cần phải làm cho tất cả các em có khả năng trở thành những bậc tài năng, đều trở thành người có tài. Đúng như C.Mác nói : “ Người nào mang một Raphaen trong mình đều phải có điều kiện để phát triển không gặp trở ngại”.

7. Mối quan hệ qua lại giữa các thuộc tính của nhân cách.

- Năng lực là mặt tài năng của nhân cách

- Xu hướng, khí chất, nhu cầu là mặt phẩm chất của nhân cách.

- Trong xu hướng nói lên chiều hướng, phương hướng phát triển của con người.

- Nhu cầu, hứng thú quy định tính chọn lọc của thái độ con người

- Thế giới quan, lý tưởng, niềm tin xác định mặt đạo đức của tính cách.

- Ngược lại, năng lực là phương tiện, là tiền đề đảm bảo cho xu hướng trở thành hiện thực.

- Tính cách nói lên mặt nội dung của nhân cách, của hoạt động.

- Khí chất quy định hình thức thể hiện của tính cách

- Tất cả các thuộc tính đều có thể được hình thành và giáo dục (kể cả khí chất).

* TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại học sư phạm, 2007.

2. Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại học sư phạm, 2007.

3. Ngô Minh Duy, Tâm lý học đại cương (Tài liệu lưu hành nội bộ), Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM.

4. Nguyễn Văn Tường, Đề cương bài giảng tâm lý học nhân cách, 2010.

5. Nguyễn Văn Tường, Đề cương bài giảng tâm lý học nhận thức 2010.